Nông dân ĐBSCL đã vượt qua Khủng hoảng kép như thế nào?

Nếu linh hoạt là chìa khóa để tồn tại, thì hợp tác là cánh cửa dẫn đến sự phát triển bền vững.

Khi nông dân Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang phải chống chọi với tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn trầm trọng hơn cả đợt hạn lịch sử 2016, “cơn ác mộng” mang tên Covid-19 ập đến. Đối mặt với khủng hoảng kép chưa từng có tiền lệ, những người sản xuất nhỏ đã chứng minh rằng sự chuẩn bị tốt và quan hệ hợp tác bền chặt có thể tạo nên những điều kỳ diệu trong một nền kinh tế đang lâm vào khủng hoảng.

Những dòng sông “khát” nước và mối đe dọa toàn cầu

Khu vực ĐBSCL, mái nhà của khoảng 19 triệu dân cư, chiếm khoảng 21% dân số Việt Nam, là nơi cung cấp hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu và hơn 60% sản lượng thủy sản của cả nước.

Đầu năm 2020, khu vực này hứng chịu một đợt hạn hán và xâm nhập mặn tồi tệ nhất trong lịch sử, vượt qua cả đợt hạn do El-Nino gây ra vào năm 2016. Theo số liệu quan trắc, tại khu vực cách cửa sông khoảng 68km vào đất liền, độ mặn đạt khoảng 4‰, vượt quá ngưỡng cho phép canh tác của hầu hết các giống lúa. Nhiều tỉnh thành đối mặt với tình trạng khan hiếm nguồn nước ngọt cho sinh hoạt, còn người nông dân “nuốt nước mắt” đứng nhìn những cánh đồng của mình chết dần chết mòn.

Ảnh: Oxfam tại Việt Nam

Trong lúc ngành nông nghiệp của khu vực ĐBSCL đang gồng mình chống chọi với thiên nhiên, thì đại dịch Covid-19 xuất hiện, giáng một đòn xuống nền kinh tế vốn đang khó khăn. Chuỗi cung ứng bị gián đoạn, nhu cầu của người tiêu dùng giảm mạnh, doanh nghiệp đóng cửa ngừng sản xuất. Hoạt động xuất nhập khẩu đóng băng, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp ngừng thu mua hoặc không thể thanh toán đúng hạn cho những hộ sản xuất nhỏ. Hiệu ứng domino xảy ra, người nông dân không có vốn để tái đầu tư, khiến sinh kế bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Khó khăn chồng chất khó khăn cho những người nông dân Việt Nam.

NÔNG DÂN ĐBSCL VỮNG VÀNG TRƯỚC THIÊN NHIÊN

Sự chuẩn bị kỹ lưỡng

Hạn hán và xâm nhập mặn những năm 2015 - 2016 đã để lại một bài học đắt giá. Vì vậy, để giảm thiểu thiệt hại do biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt, dự án Tăng cường Bình đẳng giới và Đầu tư kinh doanh Nông nghiệp có Trách nhiệm ở Đông Nam Á (GRAISEA) tập trung rất nhiều vào xây dựng khả năng chống chịu và phục hồi cho các hộ sản xuất nhỏ. Tuân theo các tiêu chuẩn và thực hành sản xuất bền vững (như SRP, ASC, và tiêu chuẩn Hữu cơ), người nông dân được đào tạo để sử dụng ít nguyên liệu đầu vào hơn nhưng đem lại lợi nhuận cao hơn. Giảm bớt sự lệ thuộc vào nguyên liệu giúp tăng sức chống chịu dài hạn của nông dân trước tình trạng biến đổi khí hậu. Nông dân cũng được làm quen và thích nghi với các điều kiện canh tác khắc nghiệt như khan hiếm nước và tài nguyên.

Một trong những can thiệp chính của GRAISEA là tiến hành lập kế hoạch Đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương cùng hợp tác xã và doanh nghiệp. Hoạt động này không chỉ nâng cao nhận thức cho họ về những biến động của khí hậu, mà còn giúp những hộ sản xuất nhỏ xây dựng các kịch bản rủi ro và kế hoạch ứng phó. Cụ thể, nông dân sẽ lấy đợt hạn hán lịch sử năm 2015 - 2016 làm mốc để xác định những thửa ruộng và vuông tôm có khả năng bị ảnh hưởng, từ đó điều chỉnh việc gieo trồng và thả tôm. Năm 2020, người nuôi tôm ở Cà Mau chỉ thả 38% lượng tôm giống so với năm ngoái. Tiết chế nguyên liệu đầu vào, giảm thiểu hết mức rủi ro và hạn chế tối đa thiệt hại.

Ảnh: Duy Khương / Oxfam tại Việt Nam

Người nuôi tôm thâm canh cũng chuyển đổi một số ao nuôi của mình sang hình thức quảng canh tạm thời. Mặc dù doanh thu chỉ bằng 30% so với một mùa thâm canh bội thu, các ao nuôi quảng canh không cần đầu tư nhiều mà vẫn tạo ra nguồn thu cho người nông dân, khi chẳng may những ao nuôi thâm canh gặp rủi ro.

Những mô hình thành công khi áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần được nhân rộng ở những khu vực và hình thức canh tác khác.

Quy mô nhỏ đôi khi là một lợi thế

Trong đối phó với khủng hoảng, các mô hình sản xuất linh hoạt quy mô nhỏ chứng minh được hiệu quả tốt hơn so với các quy mô lớn.

Nông dân khu vực ĐBSCL đã học cách đa dạng hóa sinh kế và nguồn thu nhập của mình. Đối với những mẻ tôm thu hoạch không đáp ứng chất lượng để xuất khẩu, họ sẽ làm tôm khô hoặc bánh phồng tôm. Kể cả khi thị trường đang ổn định, các hộ vẫn nuôi thả thêm cua để đề phòng bất trắc. Trong những mô hình thành công điển hình, một số loài tôm được nuôi thả đồng thời, phục vụ cả thị trường trong nước và quốc tế.

Hiểu rằng nguồn thu nhập ổn định và bền vững là một yếu tố quan trọng góp phần tăng cường khả năng phục hồi, GRAISEA đã tư vấn và hỗ trợ người sản xuất nhỏ thực hiện các sáng kiến kinh doanh nhằm đa dạng hóa sinh kế và bán thêm các mặt hàng giá trị gia tăng. Chúng tôi đặc biệt ủng hộ các sáng kiến do phụ nữ lãnh đạo, vừa nâng cao vai trò của họ trong gia đình và cộng đồng, vừa là cơ hội để họ trang trải thu nhập cho gia đình.

Ảnh: Duy Khương / Oxfam tại Việt Nam

Các mô hình sản xuất quy mô nhỏ thường bị coi là yếu thế. Nhưng khi có các thảm họa xảy ra, tính linh hoạt của chúng lại cho phép chuyển đổi nhanh chóng, chia nhỏ đầu tư và tăng cường khả năng phục hồi trước các tình huống bất ngờ. Đây có thể là một bài học cho các hộ/nhóm hộ sản xuất lớn.

Hợp tác là sức mạnh

Nếu linh hoạt là chìa khóa để tồn tại, thì hợp tác là cánh cửa dẫn đến sự phát triển bền vững. Huy động khu vực tư nhân và liên kết chuỗi giá trị là một trọng tâm khác của GRAISEA. Khi đã xây dựng được niềm tin, các doanh nghiệp sẵn sàng hỗ trợ người sản xuất nhỏ trong thời kỳ khủng hoảng, có thể là cho vay trước nguyên liệu đầu vào, hoặc mua và dự trữ sản phẩm của nông dân như một cách để chia sẻ lợi ích – rủi ro.

Ngoài ra, GRAISEA hưởng ứng việc thành lập quỹ dự phòng rủi ro với sự đóng góp chung từ các Hợp tác xã và doanh nghiệp đối tác. Quỹ tiến hành hỗ trợ những người sản xuất nhỏ bị ảnh hưởng nặng nề nhất do khủng hoảng, chủ yếu là phụ nữ đơn thân hoặc những gia đình có phụ nữ là trụ cột kinh tế. Những hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính sẽ giúp họ phục hồi nhanh hơn khi nền kinh tế bước vào giai đoạn bình thường mới.

Những hướng dẫn từ chính quyền địa phương đóng một vai trò quan trọng giúp cộng đồng ứng phó kịp thời với các tác động ngoại sinh. Chính quyền địa phương đã có những cảnh báo sớm về điều kiện thời tiết khắc nghiệt đồng thời khuyến nghị các biện pháp canh tác phù hợp. Hy vọng các cuộc đối thoại thường xuyên sẽ mở đường cho những nguồn vốn bổ sung nhằm giảm thiểu thiệt hại và hỗ trợ phục hồi ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề.

BÀI HỌC RÚT RA

Khi đại dịch dần được kiểm soát ở Việt Nam, đã có những tín hiệu tích cực cho người nông dân. Giá gạo tăng ở thị trường trong nước và giá tôm đang dần cải thiện. Phần lớn người sản xuất nhỏ tham gia dự án GRAISEA đã vượt qua giai đoạn khó khăn và đang tái thiết hoạt động.

Ảnh: Tineke D'haese / Oxfam

Bài học đầu tiên cần nhớ là về đánh giá và quản lý rủi ro. Hoạt động này nên là ưu tiên hàng đầu trong mọi mô hình sản xuất / kinh doanh, nếu muốn tiếp tục trên con đường phát triển bền vững. Người sản xuất nhỏ và doanh nghiệp nên tránh ”bỏ hết trứng vào một giỏ" nếu nhận thấy những rủi ro tiềm tàng. Người nông dân cần chú ý tới các ngưỡng thiên tai lịch sử để xây dựng kịch bản sản xuất và kinh doanh phù hợp. Đặc biệt ở ĐBSCL, nơi hạn hán và xâm nhập mặn có khả năng quay trở lại với mức độ nghiêm trọng ngày một gia tăng, người dân cần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng ứng phó.

Thứ hai, nên khuyến khích các mô hình sản xuất linh hoạt và đa dạng, có thể thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực ĐBSCL. Ví dụ, mô hình luân canh tôm - lúa đã cho thấy hiệu quả trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Những mô hình canh tác cứng nhắc sẽ khó chuyển đổi, do đó dễ gặp rủi ro hơn. Cũng cần phải xem xét những hình thức sản xuất hiện tại và lịch thời vụ để tìm hiểu những mô hình mới có thể có hiệu quả trong khu vực. Khi tình trạng nhiễm mặn ngày một trầm trọng ở ĐBSCL, câu hỏi đặt ra là, lúa có còn là cây trồng tối ưu, hay nên xem xét các loại cây trồng thay thế khi thời tiết ngày một khắc nghiệt?

Thứ ba, tăng cường các mối quan hệ trong chuỗi giá trị, thực hiện các cuộc đối thoại thường xuyên để tạo ra cơ chế chia sẻ lợi ích – rủi ro hiệu quả hơn. Chuỗi giá trị khăng khít không chỉ tăng khả năng chống chịu cho người sản xuất nhỏ mà còn đảm bảo nguồn cung ứng ổn định cho doanh nghiệp.

TRONG CÁI RỦI CÓ CÁI MAY?

Đại dịch Covid-19 có thể trở thành cơ hội cho những nông hộ tại Việt Nam. Khi Chính phủ ngày càng chú trọng an ninh lương thực và thúc đẩy chuỗi giá trị, chúng ta kỳ vọng sẽ có thêm nhiều hỗ trợ cho nông nghiệp.

Rất nhiều chính sách thúc đẩy các mô hình sản xuất linh hoạt ở ĐBSCL đã được ”thai nghén” trong một thời gian dài. Tuy nhiên, sau khủng hoảng kép vừa qua, Chính phủ có thể sẽ đẩy nhanh quá trình triển khai một khung pháp lý hỗ trợ người sản xuất nhỏ chuyển đổi nhanh chóng và hiệu quả.