Bên cạnh GDP: Phát triển bền vững phải đi đôi với môi trường

"Việt Nam cần đưa vấn đề quản lý nguồn nước sông Mekong vào chương trình nghị sự ASEAN với sự hỗ trợ kỹ thuật, tiếng nói từ các tổ chức phi chính phủ, quốc gia ngoài khối ASEAN, các nhà khoa học trong nước và quốc tế."

Viết bởi Nguyễn Ngọc Huy, Cố vấn cao cấp về biến đổi khí hậu, Oxfam tại Việt Nam

Việc sử dụng hoá chất trừ sâu trong nông nghiệp, hoá chất trong quá trình chế biến và việc xả thải trực tiếp nước thải xuống các dòng sông khiến nguồn nước ở hạ lưu sông Mekong đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Thiếu nước từ thượng nguồn về cũng là hệ quả khiến tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra trên diện rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nguyên nhân của việc thiếu nước một phần do tác động của biến đổi khí hậu gây thiếu hụt lượng mưa từ thượng nguồn và nguyên nhân khác là việc đầu tư quá nhiều đập thủy điện chặn dòng sông Mekong. Tính đến tháng 11 năm 2019 đã có 13 đập thủy điện lớn trên dòng chính của sông Mekong được đưa vào vận hành và 12 đập thủy điện khác đang trong kế hoạch được xây dựng. Ngoài ra, hàng chục thủy điện vừa và nhỏ trên các nhánh sông ở phía Tây dãy Trường Sơn cũng góp phần không nhỏ trong việc làm thiếu hụt nguồn nước đổ về hạ lưu sông Mekong. Trong bối cảnh đó, hiện đang có sự bất bình đẳng trong sử dụng nguồn tài nguyên nước sông Mekong, đó là những người dân ở ĐBSCL đang phải gánh chịu hậu quả của thủy điện và biến đổi khí hậu, trong khi lợi nhuận lại thuộc về những tập đoàn và các quốc gia đầu tư thủy điện ở thượng nguồn.

Khoảng cách giữa chính sách và thực thi

Đợt hạn hán và xâm nhập mặn khốc liệt vào cuối năm 2015 đầu năm 2016 khiến Chính phủ phải đưa ra Nghị quyết 120 về phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu ở ĐBSCL với phương châm sống thuận thiên vào năm 2017.

Đây là một nghị quyết lớn mang tầm quốc gia với tầm nhìn dài hạn đến năm 2050. Các chính sách trong khuôn khổ này sẽ giúp khôi phục lại các quy trình dựa trên thiên nhiên, liên quan đến chu kỳ lũ tự nhiên của dòng Mekong, giúp người dân chuyển đổi các sinh kế hiệu quả hơn. Nông dân ở ĐBSCL cũng có thể thích ứng với mực nước biển dâng và tình trạng xâm nhập mặn. Mặc dù vậy, việc thực thi chính sách trên thực tế chưa theo tinh thần của Nghị quyết 120. Sau hai năm thực hiện, người dân ĐBSCL vẫn phải đối mặt với tác động của hạn và mặn.

Hạn chế thấy rõ nhất trong thực thi Nghị quyết 120 của Chính Phủ đó là vấn đề điều phối nguồn nước thiếu đồng bộ và thiếu thuận thiên. Chúng ta dường như chỉ phản ứng tức thời khi thấy xâm nhập mặn vào sâu thì đóng cống ngăn mặn chứ ít tính toán đến sự vận hành linh hoạt hệ thống hạ tầng thích ứng với sự thay đổi của thiên nhiên. 

Giải pháp cho ĐBSCL: Cân bằng giữa hoạt động của con người và khai thác tài nguyên-môi trường

Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ khó tránh khỏi hạn hán và xâm nhập mặn hàng năm do tác động của biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan và sự vận hành của các hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn. Vì vậy việc thay đổi nhanh chóng để thích nghi với hoàn cảnh mới là điều cần thiết.

Tuy nhiên, để giải quyết mấu chốt của vấn đề, Việt Nam cần đưa vấn đề quản lý nguồn nước sông Mekong vào chương trình nghị sự ASEAN với sự tham gia hỗ trợ kỹ thuật và tiếng nói từ các tổ chức phi chính phủ, các quốc gia ngoài khối ASEAN và các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Nguồn tài nguyên nước ở lưu vực sông Mekong phải được phân bổ đồng đều và bền vững, đảm bảo mọi người dân đều có quyền được tiếp cận với nguồn nước sạch.

Trên thế giới, việc dỡ bỏ các thủy điện trên sông đang là xu thế nhằm trả lại môi trường sống tự nhiên và đảm bảo sự cân bằng về hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường. ĐBSCL nói riêng và các quốc gia có sông Mekong chảy qua nói chung nên theo xu thế này bằng cách tìm kiếm các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng sóng biển ở cả quy mô hộ gia đình, quy mô doanh nghiệp và các công ty sản xuất điện.

Bên cạnh đó, điều quan trọng là cả chính quyền và người dân Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận khai thác nguồn tài nguyên nước phục vụ hoạt động sản xuất và đời sống dân sinh từ việc quá mức và thiếu hiệu quả sang sử dụng bền vững. Có thể kể đến một vài giải pháp như tích trữ nước mưa ở quy mô hộ gia đình, nhóm cộng đồng và công sở; thúc đẩy việc lắp đặt và sử dụng năng lượng tái tạo cho nuôi trồng thủy sản và hòa lưới điện quốc gia; sử dụng nguồn điện từ năng lượng mặt trời để lọc nước lợ thành nước ngọt ở quy mô hộ gia đình và cụm dân cư.

Ngoài các giải pháp kỹ thuật như trên thì việc giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn nước tránh ô nhiễm và sử dụng tiết kiệm nguồn nước cần được đưa vào nhà trường và các cộng đồng dân cư, vì sự phát triển bền vững của chính người dân.