Sản xuất lúa gạo và tôm giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba trên thế giới, đồng thời các sản phẩm tôm của Việt Nam được xuất khẩu tới 100 quốc gia. Hai ngành này tạo việc làm cho hơn 10 triệu nông dân sản xuất quy mô nhỏ và người lao động, chủ yếu trong các khâu sản xuất và chế biến.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều rào cản đối với nông dân và người lao động trong việc hưởng điều kiện việc làm tử tế (decent work) bao gồm:
- An toàn và sức khỏe nghề nghiệp (OSH): OSH là một vấn đề đáng lo ngại trong sản xuất lúa gạo và tôm tại Việt Nam, với mức độ rủi ro chỉ thấp hơn các ngành xây dựng, hóa chất và khai khoáng. Nguyên nhân chính xuất phát từ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất và vận hành máy móc chưa đúng cách, cùng với tình trạng thiếu đào tạo và hướng dẫn về an toàn lao động cho người sản xuất và người lao động.
- Tiếp cận và tham gia bảo hiểm: Có tới 98% nông dân và người lao động không có bảo hiểm xã hội và 12% không có bảo hiểm y tế do thu nhập thấp và thiếu nhận thức.
- Tính dễ tổn thương về thu nhập: Nông dân sản xuất quy mô nhỏ và người lao động thường có mức thu nhập thấp nhất trong chuỗi giá trị. Họ cũng dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu và biến động thị trường, trong khi lại thiếu các cơ chế chia sẻ rủi ro hoặc bảo hiểm để bảo vệ sinh kế.
- Tiếp cận nguồn lực: Khả năng tiếp cận đất đai, nước và vốn hạn chế làm giảm hiệu quả sản xuất.
- Điều kiện làm việc: Người lao động trong các nhà máy chế biến lúa gạo và tôm phải đối mặt với điều kiện làm việc kém và thời gian làm việc kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính bền vững của công việc. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) thiếu hợp đồng lao động đầy đủ, bảo hiểm xã hội và đăng ký hoạt động chính thức.
- Rào cản giới: Việc phụ nữ nông thôn có ít quyền kiểm soát đối với các đầu vào sản xuất nông nghiệp và hạn chế trong tiếp cận các tài sản tạo sinh kế khiến họ gặp nhiều khó khăn và rào cản trong việc tham gia và hưởng lợi từ chuỗi giá trị lúa gạo và tôm. Những bất bình đẳng trên cơ sở giới này thể hiện qua năm khía cạnh chính: phân công lao động theo giới; phân phối lợi ích; khả năng tiếp cận và kiểm soát tài sản, nguồn lực; các chuẩn mực giới và xã hội; chính sách và môi trường pháp lý.
Mục tiêu
Nữ nông dân và lao động nữ trong chuỗi giá trị lúa gạo và tôm tại Việt Nam được bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của mình, đồng thời có khả năng tiếp cận các điều kiện lao động an toàn, công bằng và các cơ chế an sinh xã hội phù hợp. Qua đó, họ có thể tham gia và có tiếng nói trong chuỗi giá trị, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới.
Chúng tôi thực hiện điều này thông qua:
- Nâng cao năng lực cho nữ nông dân và lao động nữ, nhằm cải thiện khả năng thương lượng và giúp họ tự tin hơn trong việc đàm phán lợi ích và chia sẻ rủi ro một cách công bằng. Đồng thời, Dự án tăng cường mạng lưới kết nối và tiếng nói của họ trong các quá trình tham vấn và xây dựng chính sách ở cấp địa phương.
- Thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân, bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) và các doanh nghiệp đầu ngành, nhằm khuyến khích thực hành kinh doanh có trách nhiệm và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về quyền của phụ nữ và an sinh xã hội. Dự án cũng triển khai các hoạt động đào tạo và huấn luyện về việc làm bền vững (an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, an sinh xã hội) cũng như thúc đẩy vai trò lãnh đạo của phụ nữ.
- Tăng cường hợp tác giữa các tổ chức xã hội và doanh nghiệp để xây dựng và thúc đẩy các chính sách phù hợp với các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), pháp luật Việt Nam, Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về Kinh doanh và Quyền con người (UNGPs), Mục tiêu Phát triển Bền vững số 8 (SDG 8) và Khung chiến lược chung về việc làm bền vững. Thông qua các minh chứng cụ thể về lợi ích, dự án sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành tôm và lúa gạo cải thiện tiền lương đủ sống, điều kiện làm việc, chính sách thúc đẩy bình đẳng giới, môi trường làm việc không quấy rối và các cơ chế đảm bảo an sinh xã hội.
- Hỗ trợ các sáng kiến đa bên (MSIs) nhằm tập hợp và lồng ghép các góc nhìn khác nhau về việc làm bền vững, với sự tham gia của các cơ quan nhà nước, hiệp hội khu vực tư nhân, công đoàn và các tổ chức xã hội.
Kết quả kỳ vọng
- 25.800 nữ nông dân, lao động thời vụ và người lao động trong chuỗi giá trị tôm và lúa gạo ở địa bàn dự án tại Đồng bằng Sông Cửu Long được nâng cao năng lực để tiếp cận an sinh xã hội đầy đủ, an toàn vệ sinh lao động; tiếp cận việc làm thỏa đáng, sinh kế bền vững, và tăng cường bình đẳng giới và khả năng ứng phó rủi ro.
- 50 doanh nghiệp trong chuỗi giá trị tôm và lúa tuân thủ tốt hơn các quy định pháp luật của Việt Nam và các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh lao động và kinh doanh có trách nhiệm có lồng ghép giới nhằm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
- Các bộ, ngành và chính quyền cấp tỉnh, phối hợp cùng các sáng kiến đa bên liên quan, xây dựng và thực thi các chính sách nhằm nâng cao việc áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế và hệ thống bảo trợ xã hội cho phụ nữ làm nông nghiệp và người lao động trong ngành lúa gạo và thủy sản (tôm).
Nhà tài trợ